Ngôn ngữ
Tiếng việt

TÀI LIỆU MÔN VĂN

TÀI LIỆU MÔN VĂN

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

(1890 - 1969)

I.              Tiểu sử: (sách giáo khoa)

II.            Quan điểm sáng tác:

1.    Văn nghệ là vũ khí đấu tranh cách mạng. Người xem văn nghệ là một hoạt động tinh thần phong phú và phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn phải là chiến sĩ, văn chương là vũ khí nhạy bén góp phần vào nhiệm vụ đấu tranh cách mạng (Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)

2.    Văn nghệ lấy quần chúng nhân dân làm đối tượng phục vụ. Văn nghệ phải phục vụ quần chúng nhân dân. Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý đến đối tượng thưởng thức. Văn chương trong thời đại cách mạng phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ, do đó phải chú ý đến quan hệ giữa phổ cập và nâng cao trong sáng tác. Trước khi sáng tác bao giờ Bác cũng đặt ra những câu hỏi: Viết cho ai? Viết để làm gì? Viết như thế nào?

3.    Văn nghệ phải có tính chân thật, hấp dẫn. Bác với chủ trương văn nghệ phải phản ánh cuộc sống chân thật và hấp dẫn, phải phản ánh và ca ngợi tấm gương người tốt việc tốt để lên án cái xấu. Nhà văn phải chú ý đến hình thức thể hiện phong phú, linh hoạt, trong sáng, sao cho phú hợp với tinh thần dân tộc, được nhân dân yêu thích. Tránh lối viết cầu kỳ, xa lạ.

III.           Sự nghiệp văn học:

1.    Văn chính luận:

+        Sáng tác với mục đích đấu tranh chính trị nhằm tấn công trực diện kẻ thù hoặc thể hiện những nhiệm vụ cách mạng của dân tộc qua những chặng đường lịch sử.

+        Tác phẩm tiêu biểu: Tuyên ngôn độc lập, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, bản án chế độ Thực dân Pháp…

2.    Truyện và ký:

+        Tấn công kẻ thù bằng lối văn chính luận sắc sảo và sự công khai của đời sống.

+        Cô đọng, cốt truyện sáng tác có hư cấu nghệ thuật, kết cấu độc đáo, ý tưởng thâm thúy kính đáo, chất trí tuệ tỏa ra trong hình tượng, phong cách giàu tính hiện đại mang tính chiến đấu cao.

+        Tác phẩm tiêu biểu: Vi hành, Những trò lố hay Varen và Phan Bội Châu, Nhật ký chìm tàu, Lời than vãn cũa bà Trưng Trắc…

3.    Thơ ca:

+        Được viết bằng chữ Hán và chữ Việt, là lĩnh vực nổi bật trong giá trị sáng tạo văn chương của Hồ Chí Minh.

+        Được sáng tác trong những hoàn cảnh và thời điểm lịch sử khác nhau.

·         Nhật ký trong tù: Tác phẩm được viết trong thời gian Người bị bắt giam trong nhà lao Trung Quốc dưới thời Tưởng Giới Thạch từ mùa thu năm 1943. Tập thơ khắc họa hình ảnh người chiến sĩ cách mạng trong hoàn cảnh tù đày với tâm hồn và nhân cách cao đẹp.

·         Những bài thơ được sáng tác trước và sau cách mạng ghi lại thời kỳ hoạt động cách mạng bí mật và thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền cách mạng (Pác pó hùng vĩ, Tức cảnh Pác pó, Ca sợi chỉ…)

 

·         Những bài thơ kháng chiến thể hiện nỗi băn khoăn lo lắng cho vận nước, sự động viên ca ngợi tinh thần chiến đấu của quân và dân. Bộc lộ niềm vui trước những thắng lợi vẻ vang của dân tộc (Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Cảnh rừng Việt Bắc, Tin thắng trận…)

+        Có những bài cổ thi uyên thâm hàm súc, những bài thơ hiện đại sâu sắc sáng tạo.

Bất kỳ thể loại nào Người cũng thể hiện một phong cách độc đáo, giản dị mà sâu sắc, cổ điển mà hiện đại.

IV.          Phong cách nghệ thuật:

1.    Những nét chung:

+        Ngắn gọn, giản dị, trong sáng mà sâu sắc, hàm súc.

+        Linh hoạt trong việc sử dụng các hình thức biểu diễn nhằm đạt hiệu quả, giá trị cao nhất.

+        Ý tưởng và hình tượng trong tác phẩm đều vận động hướng tới cách mạng, hướng tới ánh sáng, niềm vui và cuộc sống.

2.    Những nét riêng:

+        Văn chính luận bộc lộ tư duy sắc sảo,giàu tri thức văn hóa, gắn lý luận với thực tiễn, giàu tính luận chiến, vận dụng có hiệu quả nhiều phương thức biểu hiện.

+        Truyện và ký mở đầu và góp phần đặt nền móng đầu tiên cho văn xuôi cách mạng, rất chủ động, sáng tạo – Khi là lối kể chân thật, khi là giọng điệu sắc sảo, châm biếm thâm thúy, tinh tế. Tính trí tuệ và hiện đại là nét đặc sắc trong truyện và ký của người.

+        Thơ ca có phong cách đa dạng. Có nhiều bài cổ thi hàm súc uyên thâm. Mang đặc điểm của thơ ca cổ phương Đông. Có những bài thơ hiện đại được Người vận dụng qua nhiều thể loại nên phục vụ có hiệu quả cao cho nhiệm vụ cách mạng.

V.            Luyện tập:

1.    Trình bày quan điểm sáng tác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

2.    Trình bày sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

3.    Trình bày phong cách nghệ thuật của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

 

NGUYỄN TUÂN

I.Tiểu sử: (SGK)

II.Con người:

1.Giàu lòng yêu nước và tinh thần dân tộc. Lòng yêu nước của ông có màu sắc riêng, gắn liền với những giá trị văn hóa cổ truyền của dân tộc

+        Ông yêu tha thiết tiếng mẹ đẻ.

+        Yêu những kiệt tác văn chương.

+        Yêu những nhạc điệu, làn điệu của dân ca ba miền

+        Yêu những phong cảnh đẹp của quê hương, đất nước

+        Yêu những thú chơi tao nhã như uống trà, chơi chữ, thả thơ

+        Yêu những món ăn truyền thống thể hiện khẩu vị tinh tế của người Việt

2.Ở Nguyễn Tuân ý thức cá nhân phát triển rất cao

+        Ông viết văn chương trước hết để khẳng định cá tính độc đáo của mình

+        Ông ham du lịch, tự gắn cho mình một chứng bệnh gọi là “chủ nghĩa xê dịch”

+        Ông có lối sống tự do phóng túng

3.Nguyễn Tuân là con người rất mực tài hoa

+        Ông am hiểu rất nhiều môn nghệ thuật khác nhau như hội họa, điêu khắc, sân khấu, điện ảnh

+        Ông là một diễn viên kịch nói có tài và là diễn viên điện ảnh đầu tiên của nước ta

+        Ông thường dùng con mắt của nhiều ngành nghệ thuật khác nhau để tăng cường khả năng quan sát, diễn tả của nghệ thuật văn chương

4.Nguyễn Tuân là nhà văn biết quý trọng thật sự nghề nghiệp của mình

+        Nghề văn là một cái gì đối lập với tính vụ lợi kiểu con buôn và ở đâu có đồng tiền phàm tục thì ở đấy không thể có cái đẹp

+        Đối với ông nghệ thuật là một hình thái lao động nghiêm túc, thậm chí “khổ hạnh”

III.Sự nghiệp sáng tác

1.Nguyễn Tuân (1910 – 1987) là một nhà văn lớn của VHVN. Sự nghiệp sáng tác của ông trải dài trên 2 chặng đường trước và sau CMT8 năm 1945. Trước CMT8 ông là một nhà văn lãng mạn. Sau CMT8 năm 1945 Nguyễn Tuân chuyển biến trở thành nhà văn Cách Mạng

2.Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân trước CMT8 năm 1945

Trong giai đoạn này ông là cây bút tiêu biểu cho văn xuôi lãng mạn thời kì cuối 1930-1945. Tác phẩm của Nguyễn Tuân tập trung vào ba đề tài chính

TÀI LIỆU MÔN VĂN“Chủ nghĩa xê dịch”       viết về cái tôi lãng tử của nhà văn qua những miền quê trong đó hiện lên cảnh sắc và phong vị quê hương cùng một tấm lòng yêu nước thiết tha. Tác phẩm tiêu biểu: “Một chuyến đi”, “Thiếu quê hương”

v  Nguyễn  Tuân viết về vẻ đẹp “Vang bóng – Một thời” đó là những nét đẹp còn vương sót lại của một thời đã lùi vào dĩ vãng gắn với lớp nhà nho cuối mùa. Tác phẩm tiêu biểu “Vang bóng một thời”

TÀI LIỆU MÔN VĂN“Đời sống trụy lạc”        nhà văn ghi lại quãng đời bế tắc hoang mang, bộc lộ cái tôi lãng tử và cuộc sống trụy lạc (lao vào rượu, thuốc phiện, hát ả đào). Qua đó thấy được tâm trạng khủng hoảng của lớp thanh niên đương thời. Tác phẩm tiêu biểu “Chiếc lư đồng mắt cua”, “Ngọn đèn dâu lạc”

3.Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Tuân sau CMT8 1945

v  Những sáng tác của Nguyễn Tuân trong thời kì này phản ánh hai cuộc kháng chiến. Qua đó thấy được vẻ đẹp của con người Việt Nam vừa dũng cảm vừa tài hoa

v  Nhà văn đã hòa mình vào cuộc sống của nhân dân, tham gia thực tế kháng chiến, thể hiện cái nhìn ấm áp, niềm tin yêu vào cuộc sống và liên tiếp cho ra đời những tác phẩm mang tính thời sự

v  Ông cũng viết về công cuộc xây dựng đất nước, trong đó thể hiện con người Việt Nam với vẻ đẹp cần cù mà rất mực tài hoa

v  Tác phẩm tiêu biểu “Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi”, “Tình chiến dịch”, “tùy bút sông Đà”

ð  Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời tìm kiếm và khẳng định những giá trị nhân văn cao quý với những nét phong cách nổi bật, tài hoa, uyên bác, hiện đại và cổ điển. Ông có nhiều đóng góp cho thể loại tùy bút và tiếng Việt

IV.Phong cách Nguyễn Tuân

1.Nguyễn Tuân (1910 - 1987) là nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Sự nghiệp sáng tác của ông trải dài trên hai chặng đường trước và sau CMT8 – 1945. Trước CMT8 ông là một nhà văn lãng mạn. Sau CMT8 năm 1945 Nguyễn Tuân chuyển biến sang nhà văn cách mạng. Trong cả hai giai đoạn Nguyễn Tuân đều khẳng định một phong cách nghệ thuật sâu sắc và độc đáo

2.Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân

a.Tài hoa, uyên bác

v  Khám phá, phát hiện sự vật ở phương diện văn hóa thẩm mĩ. Ví dụ: Sông Đà trong cái nhìn của Nguyễn Tuân là một công trình nghệ thuật của tạo hóa với vẻ đẹp thơ mộng, hiền hòa, trữ tình

v  Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ. Ví dụ: Huấn Cao trong “Chữ người tử tù” là một nghệ sĩ  tài hoa với tài viết thư pháp. Ông lái đò Lai Châu trong “Tùy bút sông Đà” là một nghệ sĩ trong nghệ thuật vượt thác được xem là “Một tay lái ra hoa”

v  Tô đậm những nét phi thường, tuyệt vời của cảnh vật, con người. Ví dụ: Miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân tập trung vào địa hình hiểm trở của con sông với những khúc thác dữ dội

v  Vận dụng nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau vào sáng tác.

b.Sử dụng ngôn ngữ văn học một cách sáng tạo, độc đáo, được đánh giá là bậc tay của ngôn ngữ Tiếng Việt

v  Nguyễn Tuân có một kho từ vựng phong phú. Ví dụ: Miêu tả nước ở khúc thác dữ dội trên sông Đà nhà văn đã sử dụng một lớp ngôn ngữ phong phú, đa dạng: nước réo,rỗng, nước van xin, khiêu khích, nước hò la, nước đội thuyền…

v  Tổ chức câu văn xuôi có giá trị cao tạo nên tiếng nhạc trong văn xuôi, câu văn có nhạc điệu, trầm bổng, cách phối âm, phối thanh linh hoạt, tài hoa,…

c.Sử dụng thể loại tùy bút thuần thục, có những thành tựu đặc sắc. Ví dụ: “Tùy bút sông Đà”

d.Những chuyển biến trong phong cách nghệ thuật

v  Trước CMT8 1945, phong cách của Nguyễn Tuân có thể thâu tóm trong một chữ ngông. Đó là thái độ khinh đời, ngạo đời dựa trên tài hoa uyên bác và nhân cách hơn đời của mình

v  Sau CMT8, Nguyễn Tuân hòa nhập vào cuộc sống của nhân dân, ca ngợi cái đẹp không chỉ ở những tính chất phi thường mà còn ở cả những người lao động bình thường

 

NAM CAO

(1917 - 1951)

I.Tác giả:

Nam Cao (1917 - 1951), tên thật là Trần Hữu Trí, quê làng Đại Hoàng, phủ Lí Nhân, tỉnh Hà Nam. Nam Cao là nhà văn có vị trí hàng đầu trong nền văn học thế kỉ XX là một trong những đại diện xuất sắc của trào lưu văn học hiện thực giai đoạn 30 – 45. Ông cũng là một trong những cây bút tiêu biểu nhất của chặng đầu nền văn học mới sau Cách mạng.

II.Sự nghiệp sáng tác:

1.Trước CMT8: Những sáng tác của Nam Cao trong giai đoạn này tập trung vào hai đề tài cuộc sống của người tri thức nghèo và cuộc sống của người nông dân nghèo.

Đề tài trí thức tư sản nghèo:

·         Nhà văn Nam Cao miêu tả hết sức chân thật tình cảnh nghèo khổ, bế tắc của những nhà văn nghèo, của những “giáo khổ trường tư”, những học sinh thất nghiệp…

·         Nam Cao đã làm nổi bật tấn bi kịch tinh thần của họ - những con người có ý thức sâu sắc về sự sống, muốn sống có hoài bão, phát triển nhân cách nhưng cứ bị gánh nặng cơm áo hàng ngày làm cho họ “chết mòn” về tâm hồn, phải sống một cuộc “Đời thừa”, một kiếp “Sống mòn”.

·         Tác phẩm tiêu biểu về đề tài người tri thức nghèo: Đời thừa, Trăng sáng, Những chuyện không muốn viết, Nước mắt, Mua nhà, Cười.

v  Về đề tài người nông dân nghèo:

·         Nam Cao phác họa cuộc sống cùng quẫn, bế tắc, nghèo khó về vật chất.

·         Đặc biệt trong một số tác phẩm nhà văn viết về người nông dân bị lưu manh hóa. Trong những tác phẩm này, Nam Cao kết án sâu sắc cái xã hội tàn bạo đã hủy diện cả nhân tính của những người lương thiện.

·         Tác phẩm tiêu biểu: Chí Phèo, Lão Hạc, Một bữa no, Một đám cưới, Trẻ con không được ăn thịt chó

v  Dù viết về đề tài người nông dân hay người trí thức, Nam Cao cũng thể hiện một quan điểm sáng tác tiến bộ. Đó là quan điểm sáng tác “nghệ thuật nhân sinh”

·         Trước khi trở thành nhà văn hiện thực, Nam Cao đã từng là nhà văn lãng mạn, nhưng sau đó ông sáng tác theo xu hướng nghệ thuật “vị nhân sinh”. Ông quan niệm nhà văn phải phản ánh chân thật hiện thực vào tác phẩm. Với Nam Cao, hiện thực chính là đời sống khốn khổ lầm than của những người nghèo “Nghệ thuật không cần ánh trăng lừa dối, không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật là những tiếng đau khổ thoát ra từ những kiếp làm than…”. Và người cầm bút không được trốn tránh hiện thực mà hãy “cứ đứng trong khổ mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời”  (Trăng sáng)

·         Nam Cao còn cho rằng, tác phẩm văn chương có giá trị phải là tác phẩm có giá trị nhân đạo “Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao mạnh mẽ, vừa đau đớn vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình, nó làm cho người gần người hơn” (Đời thừa)

·         Nam Cao đòi hỏi người cầm bút phải sáng tạo, tìm tòi “khơi những nguồn chưa ai khơi” “sáng tạo những gì chưa ai có”

·         Theo Nam Cao, nhà văn chân chính  phải là người có ý thức trách nhiệm đối với nghề. Ông cho rằng cẩu thả trong văn chương không chỉ là sự “bất lương” mà còn ”đê tiện”

2.Sau CMT8: Nam Cao sáng tác để phục vụ công cuộc kháng chiến. Truyện ngắn Đôi Mắt (1948), Nhật ký ở rừng (1948), Bút kí truyện biên giới (1950) thuộc vào những sáng tác đặc sắc nhất của Nam Cao trong nền văn học mới sau Cách mạng. Giai đoạn này, ông có một quan điểm rất tiến bộ, quan niệm của một nhà văn chân chính “sống đã rồi hãy viết”

NHẬN XÉT CHUNG: Nam Cao là cây bút có cái gốc nhân đạo rất sâu sắc và là một tài năng độc đáo bậc thầy trong nghệ thuật viết truyện ngắn. Ông xứng đáng là một nhà văn lớn với nhiều tác phẩm đặc sắc trong nền văn học hiện đại.

III.Phong cách nghệ thuật:

   Nam Cao là một cây viết tỉnh táo, sắc, lạnh. Dưới ngòi bút của ông nặng trĩu những suy nghĩ, trăn trở suy tư. Văn Nam Cao giản dị nhưng hết sức chân thực, tác phẩm của ông khiến cho độc giả cảm nhận như đang diễn ra thật sự trước mắt mình bởi vì ông xem sự thật là trên hết. Văn Nam Cao viết đơn thuần, bố cục thoáng, ít nhân vật nhưng nặng tình triết lí, nhân sinh. Sở trường của Nam Cao là phẩu thuật tâm lý, ông phân tích tâm lý con người rất sâu sắc, nhẹ nhàng..Am hiểu tâm lí nhân vật nên Nam Cao đã tạo được những đối thoại độc thoại nội tâm rất chân thật và sinh động

   Với tài năng giàu cảm xúc sáng tạo, với ngôn ngữ sống động, uyển chuyển gần ngôn ngữ đại chúng, Nam Cao đóng góp rất lớn cho nền văn xuôi nước nhà. Nam Cao có suy nghĩ góp sức vào công việc nghệ thuật là để sửa soạn cho mình một công việc nghệ thuật cao hơn.

 

XUÂN DIỆU

I.      Xuân Diệu (1916 – 1985) quê mẹ ở Bình Định, quê cha ở Nghệ An. Ông là một tài năng đa diện: là thơ, viết văn, nghiên cứu, phê bình văn học, dịch thuật. Ở phương diện nào, ông cũng có những đóng góp đáng kể, nhưng đặc biệt là trong lĩnh vực thơ.

II.            SỰ NGHIỆP SÁNG TÁC

1.    Trước cách mạng tháng tám

·         Xuân Diệu sáng tác nhiều thể loại: thơ, văn xuôi. Tác phẩm tiêu biểu trước CMT8 của ông gồm có: Phấn thông vàng (1939), Trường ca (1945). Đây là những tác phẩm giàu chất trữ tình, cảm hứng lãng mạng là chủ yếu nhưng cũng có trang nghiêng về hiện thực như: Tỏa Nhị Kiều, Cái Hỏa Lò. Nhiều trang văn học trong Trường ca sôi nổi tha thiết như những bài thơ diễm lệ, đầy sức hấp dẫn như: Hoa học trò, Giã như tuổi nhỏ, Thu.

·         Những đóng góp nổi bật và cũng chính là thành công đặc sắc của Xuân Diệu là thể loại thơ với 02 tập thơ Thơ (1938), Gửi hương cho gió.

·         Trước CMT8, Xuân Diệu được đánh giá là “nhà thơ mới nhất trong tất cả những nhà thơ mới” (Hoài Thanh).

·         Thơ Xuân Diệu trước CMT8 có nhiều cách tân táo bạo và thành công rực rỡ, ông tiếp thu thơ ca lãng mạn phương Tây và thể hiện một cách chân thành, say đắm cái tôi cá  nhân. Thơ Xuân Diệu đã thực sự thoát khỏi hệ thống ước lệ có tính phi ngã của thơ cũ đem lại cho thơ mới luồng gió nồng nàn, mãnh liệt chưa có trong thơ ca truyền thống. Thơ Xuân Diệu trước CMT8 có hai nội dung tưởng chừng như mâu thuẫn nhưng thực tế là một thể thống nhất trong hồn thơ Xuân Diệu.

-          Niềm khát khao giao cảm với đời, tình yêu đời, tình yêu cuộc sống, thiết tha, nồng nàn, mãnh liệt.

-          Ông là nhà thơ của trần gian, ông tận hưởng say mê thanh sắc của cuộc đời, sống tận tâm, tận lực, cuộc đời đối với Xuân Diệu có một sức hút mãnh liệt: “Tôi chỉ là cây kim bé nhỏ, mà vạn vật là đá nam châm. Nếu hương đêm say dậy ánh trăng rằm, thì chớ trách người thơ tình lơi lã”.

-          Thi sĩ cảm nhận thiên nhiên bằng tất cả giác quan, mở lòng say sưa đón nhận  thiên nhiên (Đay mùa thu tới).

-          Tình yêu đời , tình yêu cuộc sống trong thơ Xuân Diệu còn thể hiện qua nhiều bài thơ. Tình yêu với nhiều sắc thái, nhiều cung bậc. Ông là nhà thơ tình yêu số một của Việt Nam được mệnh danh là “ông hoàng của thơ tình”. Xuân Diệu là người đầu tiên mang về cho văn chương Việt Nam một quan niệm mới về tình yêu. Đó là tình yêu bao giờ cũng đòi hỏi vô biên, khát khao tuyệt đỉnh và vĩnh viễn.

“Trong vườn đêm ấy nhiều trăng quá

Ánh sáng tuôn đầy các lối đi

Tôi với người yêu qua nhè nhẹ

Êm đềmkhông dám nói năng chi”

(Trăng)

-          Nỗi đau hoài nghi, chán nản, cô đơn, tuyệt vọng, sầu não ruột.

-          Có những lúc thơ Xuân Diệu tràn ngập nỗi cô đơn, cô đơn trở thành nỗi ám ảnh trong thơ ông. Từ đó, thi sĩ đã tạo nên những hình ảnh thơ độc đáo, sáng tạo.

“Tôi là con nai bị chiều đánh lưới

Không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”

                                                (Khi chiều giăng lưới)

-          Tình yêu trong thơ Xuân Diệu đôi khi rơi vào bi kịch của một trái tim hiến dâng nhằm chỗ (Nước đổ lá khoai)

“Yêu là chết trong lòng một ít

Vì mấy khi yêu đã được người yêu

Cho rất nhiều nhưng chẳng nhận được bao nhiêu

Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết”

-          Xuân Diệu là nhà thơ của tuổi trẻ, của mùa xuân, của tình yêu nhưng ông luôn lo sợ dòng trôi của thời gian. Vì vậy thi sĩ có một nhịp độ sống hối hả, cuống quýt.

“Mau lên chứ, vội vàng lên chứ

Em, em ơi, tình non đã già rồi

Con chim hồng trái tim nhỏ của tôi

Mau lên chứ thời gian không đứng đợi”

                                                (Giục Giã)

-          Kinh nghiệm của Đông và Tây, truyền thống và hiện đại đã giúp Xuân Diệu khám phá được nhiều biến thái tinh vi của thiên nhiên cũng như nội tâm của con người thể hiện trong những vần thơ “ít lời nhiều ý”, súc tích như đọng lại bao nhiêu tinh hoa (Thế Lữ). Ông đã sáng tạo ra một thế giới nghệ thuật tràn đầy xuân sắc và tình tứ, trong đó con người là chuẩn mực, là thước đo để đánh giá cái đẹp. Đây chính là quan điểm thẫm mĩ của “nhà thơ mới nhất trong những nhà thơ mới”. Thơ ca trung đại lấy thiên nhiên làm chuẩn mực cho vẻ đẹp của con người “Phù dung như diện liễu như mi”. Còn Xuân Diệu là chuẩn mực của cái đẹp “lá liễu dài như nét mi”.

2.    Sự nghiệp sáng tác của Xuân Diệu sau CMT8.

·         Sau CMT8, Xuân Diệu mở rộng hồn thơ đến với cuộc đời mới, ông sưa viết về nhân dân, về Đảng, về Bác Hồ, về hai cuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, về sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miền bắc với một tinh thần lạc quan và một niềm tin tưởng mãnh liệt

·         Sau CMT8 Xuân Diệu sáng tác nhiều thể loại: Trường ca, Tráng ca, văn xuôi, thơ, phê bình, dịch thuật

·         Tác phẩm tiêu biểu sau CMT8: hội nghị non sông, Ngọn quốc kỳ, Hồn tôi đôi cánh, Thanh ca, Tôi giàu đôi mắt.

III.           PHONG CÁCH NGHỆ THUẬT

Thơ Xuân Diệu mang phong cách mới lạ, bút pháp nhiều giọng, nhiều vẻ.

Trong các tác phẩm trước cách mạng ông tập trung vào những hình ảnh ngôn ngữ diễn tả nỗi cô đơn buồn tủi. Tình yêu trong ông không mô tả bằng những từ vựng bóng gió, ước lệ. Thơ Xuân Diệu dùng hình ảnh nhục thể của thân xác để diễn tả vẻ đẹp tâm hồn, thiên nhiên:

                        “Tay em đây mời khách ngã đầu say”

                        “Mình em không quấn được chân anh”

                        “Hãy sát đôi vai hãy kề đôi ngực”

                        “Tháng giêng ngon như cặp môi gần”

Ngôn từ được gọt giũa như những hạt ngọc long lanh, sử dụng từ ngữ rất mới, cách gieo vần sáng tạo: “Đây mùa thu tới”, “Thơ duyên”.

Xuân Diệu có cái hay là ông đón nhận sự sống qua thị, thính, khứu giác (Đây mùa thu tới), dùng biện pháp nhân hóa thật tinh tế và tự nhiên. “Bữa nay lạnh mặt trời đi ngủ sớm”.

Sau Cách Mạng vẫn lời ăn tiếng nói vào thơ, trầm hùng cổ kính, triết lý, sử ca.

Tóm lại thơ Xuân Diệu có những nét phong cách Tây học, biết kết hợp giữa Tây với Đông, giữa hiện đại với cổ điển.

 

 

 

 

TỐ HỮU

I.              Vài nét về tiểu sử:

-          Tên thật: Nguyễn Kim Thành (1920 – 2002), quê Thừa Thiên, Huế.

-          Sớm giác ngộ, tham gia đấu tranh cách mạng, từng bị bắt giam nhiều lần.

-          1945 là Chủ Tịch Ủy Ban khởi nghĩa ở Huế, công tác văn nghệ ở Việt Bắc.

-          1954 – 1986 giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Đảng, Nhà nước.

II.            Sự nghiệp văn chương:

1.    Những nét chính về phong cách nghệ thuật của thơ Tố Hữu:

-          Thơ Tố Hữu là thơ chính trị, quan tâm thể hiện những vấn đề lớn, tình cảm lớn, lẽ sống lớn, tình cảm lớn của cách mạng và con người cách mạng. Khuynh hướng sử thi nổi bật trong những sáng tác từ cuối kháng chiến chống Pháp trở về sau.

-          Thơ Tố Hữu tràn đầy cảm hứng lãng mạn, luôn hướng người đọc tới chân trời tươi sáng.

-          Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình, ngọt ngào tha thiết – giọng của tình thương mến. Nhiều vấn đề chính trị, cách mạng đã được thể hiện như vấn đề của tinh cảm muôn đời.

-          Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc không chỉ trong nội dung mà còn trong nghệ thuật biểu hiện: Các thể thơ và thi liệu truyền thống được sử dụng nhuần nhuyễn, ngôn từ giản dị, vần điệu phong phú, nhạc tính dồi dào.

2.    Các chặng đường thơ của Tố Hữu gắn liền với các chặng đường đấu tranh của cách mạng:

-          Tập “Từ ấy” (1937 – 1946) tiếng reo vui của người thanh niên tìm gặp ánh sáng lý tưởng cách mạng.

-          Tập “Việt bắc” (1947 – 1954) giai đoạn kháng chiến chống Pháp: Hình ảnh nhân dân, bộ đội, quê hương Việt Bắc, tình quân dân, kính yêu lãnh tụ.

-          Tập “Gió lộng” (1955 – 1961) giai đoạn xây dựng XHCN ở miền Bắc, tiếp tục đấu tranh thống nhất Tổ quốc: nội dung ca ngợi công cuộc xây dựng CNXH, cuộc sống mới, con người mới.

-          Tập “Ra trận” (1962 – 1971), “Máu và hoa” (1972 – 1977) giai đoạn chống Mỹ: Là bài ca ra trận, kiêu gọi nhân dân hai miền Nam Bắc đứng lên kháng chiến.

-          Tập “Một tiếng đờn” (1992), và “Ta với ta” (1999): Thể hiện những chiêm nghiệm mang tính phổ quát về con người và cuộc đời.


 

------------------------------//----------------------------------------

Hãy share để mọi người cùng biết:

TÀI LIỆU MÔN VĂN TÀI LIỆU MÔN VĂN

TÀI LIỆU MÔN VĂN

10/ 10 - 3295 phiếu bầu

Back      Print In      Đã xem : 1208
Dịch vụ liên quan

© Copyright by  www.luyenthidhcanhsat.com, all rights reserved.

Thiết kế website www.webso.vn
Back to top
Sản phẩm đã được thêm vào giỏ hàng
Mua thêm sản phẩm khác
Xem giỏ hàng